Nhạc ngày Xuân

Hôm nay Mùng Một Tết, ngồi nghe lại những bài nhạc Xuân mà tôi yêu thích.  

Ly Rượu Mừng - Phạm Đình Chương 

Ông Phạm Đình Chương sáng tác bài Ly Rượu Mừng năm 1952 và được ban hợp ca Thăng Long trình bày đầu tiên. 

Và cho đến bao năm sau, những ước vọng ngày Xuân của ông vẫn còn vang lên, vang lên, cầu mong cho một ngày mai sáng tươi, hạnh phúc 

Bạn hỡi, vang lên
Lời ước thiêng liêng
Chúc non sông hoà bình, hoà bình
Ngày máu xương thôi tuôn rơi
Ngày ấy quê hương yên vui
đợi anh về trong chén tình đầy vơi

Nhấc cao ly này
Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do
Nước non thanh bình
Muôn người hạnh phúc chan hoà
 


Mùa xuân đầu tiên - Văn Cao

Dặt dìu rất Văn Cao, lời đẹp đơn sơ của một mùa xuân thật đẹp, với những ước vọng Từ đây người biết thương người, Từ đây người biết yêu người. 

Một quê hương thật đẹp trong 

Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
Mùa bình thường mùa vui nay đã về
mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
một trưa nắng cho bao tâm hồn.



Mùa xuân đó có em - Anh Việt Thu 

Lời dạt dào, da diết. Một bài rất hay của Anh Việt Thu


Xuân Ca - Phạm Duy 

Có một gì đó rất Phạm Duy trong hai câu mở đầu của bài hát

Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về


Rước xuân về nhà - Nhật Ngân

Này mẹ thấy chăng cây mai trước sân nhà
Nụ vàng ấp yêu bay trong gió la đà
Này mẹ thấy chăng trời bao la đàn én đang nhởn nhơ dập dìu.


Đọc Lời Ai Điếu của Lê Phú Khải

Tôi vừa đọc xong Lời Ai Điếu của Lê Phú Khải.  Đó là những câu chuyện dài của một người phản tỉnh về những nhân vật trong một bộ máy đổ nát, về những cuộc đời đen tối trong một xã hội đen tối — xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

Lê Phú Khải là một nhà báo xuất thân từ một gia đình cộng sản “nòi”.  Chú ruột ông là Tướng Lê Hữu Qua, từng giữ đến chức vụ Thiếu tướng Công an, Tổng Cục trưởng đầu tiên của Tổng cục Cảnh sát Nhân dân.

Giống như Đèn Cù của Trần Đỉnh, giống như tất cả những dòng sách của những vị phản tỉnh khác. Sách là những câu chuyện xấu xa, đen tối, về những con người méo mó, đen tối của một xã hội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.

Việc một người phản tỉnh, nhận ra được cái xấu của những điều mà trước đây mình đã thần tượng, đã tôn thờ là điều rất quý.  Viết lại những điều đó thành sách để người sau nhìn lại được một giai đoạn lịch sử của Việt Nam là điều nên làm.  Nhưng dường như đã có một vết xe đổ mà rất nhiều người đã từng sống trong xã hội miền Bắc Cộng sản không thể tránh khỏi, là việc thần tượng hoá Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp.

Tất cả những dòng sách phản tỉnh, từ trước đến nay đều có một lý luận trùng lặp là những người Cộng sản thời chống Pháp thì rất tốt, rất lý tưởng, và những người Cộng sản đang cầm quyền hiện tại chỉ là những con thú đội lốt người.

Tôi cho rằng, tất cả những lý luận đó, cũng chỉ để biện minh cho quá khứ của những vị phản tỉnh, họ cảm thấy rằng cuộc đời của mình dẫu sao cũng có ý nghĩa và hướng đến cái tốt đẹp.  Trong khi, thật sự, những phụng sự cho chế độ Cộng sản là những việc làm của những con người, nếu ngây thơ thì bị phỉnh gạt, và nếu tinh khôn thì đã bất chấp tất cả để đạt đến mục đích của mình.

Những lý luận theo kiểu những người cộng sản ngày xưa tốt, những người cộng sản ngày nay xấu là điều đã được rất nhiều người lập đi lập lại.  Cứ cho rằng những người đi kháng chiến chống Pháp, những người đi theo Việt Minh đều là những người yêu nước, thương dân, thì chúng ta cũng không thể phủ nhận được - Hồ Chí Minh là người đã đội lốt Chủ nghĩa dân tộc để đưa Chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam.  Hồ Chí Minh, với vai trò là người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam thừa hiểu được vai trò và những điều tốt xấu của nó.  Nhiều người vẫn quả quyết Hồ Chí Minh tốt lắm, những những người đi theo ông ta, và đám hậu duệ của Hồ Chí Minh thì không ra gì, cho nên đất nước Việt Nam mới ra nông nổi như vậy.  Tuy nhiên, chúng ta quên mất rằng, sự khác biệt của một người lãnh đạo, và một người dân thường, là người lãnh đạo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lựa chọn sai lầm của mình, và từ đó đưa dân tộc Việt Nam đến bờ vực thẳm.  Trong sách, Lê Phú Khải có nói đến những người Nga đã ví nước Nga Hậu chiến tranh lạnh như một chiến hạm mắc cạn, còn Việt Nam như một chiếc thuyền thúng chẳng biết sẽ trôi về phương nào.

Đọc Lê Phú Khải để chúng ta càng cảm phục được những con người như Nguyễn Chí Thiện.  Để thấy rằng có một lớp thanh niên Việt Nam đã bị cuốn vào làn sóng Cộng sản, nhưng một số rất ít trong họ đã sớm nhận ra được bản chất dối trá và tàn độc của Chủ nghĩa Cộng sản.  Phải là những con người dũng cảm và đại trí, thì mới thấy được bản chất thật của Cộng sản giữa một không khí xã hội hừng hực chống ngoại xâm, nơi mà lòng tin và lòng yêu nước bị lợi dụng đến tận cùng. 

Đăng lại note của một bài viết cũ, của những năm trước khi đọc cuốn Lời ai điếu

Hoa trà


Hoa trà trước sân nhà đang nở hoa.  Hoa màu hồng nhạt, vân trắng. 

Đây là cây hoa duy nhất chúng tôi giữ lại sau khi mua căn nhà này.  Hoa đang kín nụ và sẽ kịp nở ngay vào dịp Tết năm nay. 

Trong thế kỷ 19, hoa trà đã được giới Pháp giới thiệu tới Việt Nam và nhanh chóng trở thành một sản phẩm trang trí được ưa chuộng của giới tinh hoa. Nó được trồng rộng rãi tại các vùng miền Bắc của Việt Nam, nơi có nhiệt độ và độ cao độ thích hợp cho hoa trà.

Camellia sinensis là một loài hoa trà được sử dụng để làm trà đen, trà xanh và trà trắng. Tôi mê trà, nhưng chưa bao giờ được thử trà trắng. 

Hôm nay thấy hoa trà, nhớ lại một đoạn trong Hồi 30 trong Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung - Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa

Vương phu nhân dẫn Đoàn Dự đi qua một chiếc cầu đá, theo con đường chật hẹp đến trước một toà lầu nhỏ. Đoàn Dự ngẩng đầu lên trông thấy dưới mái hiên có treo tấm biển đề ba chữ vàng: "Vân Cẩm lâu". Bốn mặt toà lầu này trồng toàn hoa trà. Những bông trà ở đây đem so với trà bên Đại Lý chỉ đáng đứng vào hàng thứ ba, thứ tư trở xuống. Đình tạ, lầu các cực kỳ lịch sự mà cỏ hoa lại tầm thường nên mất cả vẻ tương xứng.

Vương phu nhân lộ vẻ đắc ý hỏi Đoàn Dự:

- Đoàn công tử! Bên quý quốc nhiều trà thật nhưng có lẽ còn thua bên này.

Đoàn Dự gật đầu đáp:

- Vâng! bên Đại Lý quả không trồng những thứ trà này.

Vương phu nhân lại càng tự đắc hỏi:

- Vậy ư?

Đoàn Dự đáp:

- Vì bên nước tôi từ kẻ dân dã, ngu phu tục tử cũng rất sành về các loại trà. Họ cho trồng những thứ trà tạp nham này làm cảnh chơi sẽ làm mất cả phẩm giá con người.

Vương phu nhân tức thời biến sắc hỏi:

- Công tử nói sao? Những trà của ta đây là những thứ không ra gì? Thế thì công tử khinh người quá!

Đoàn Dự đáp:

- Phu nhân không tin tôi thì đó là quyền của người.

Chàng vừa nói vừa chỉ một khóm hoa trà có vân ngũ sắc trước lầu nói tiếp:

- Tỷ như khóm trà này phu nhân cho là quý lắm! Chà cái lan can bên cạnh mới thực là đẹp.

Chàng tấm tắc khen cái giàn hoa đẹp còn chính cây hoa lại không đếm xỉa gì đến, có khác gì người bình phẩm chữ viết chỉ khen mực đen bóng mà không đả động đến nét chữ. Khóm hoa trà này có bông hồng, bông trắng, bông tía, bông vàng rất là sặc sỡ, trước nay Vương phu nhân vẫn cho là quý báu lắm giờ xem Đoàn Dự có ý mỉa mai thì tỏ vẻ không bằng lòng.

Đoàn Dự hỏi:

- Thưa phu nhân! Miệt Giang Nam gọi tên thứ hoa này là gì?

Vương phu nhân đáp:

- Ở đây không có tên riêng, chỉ gọi là ngũ sắc trà hoa.

Đoàn Dự nói:

- Bên Đại Lý chúng tôi gọi nó là "lạc đệ tú tài".

Vương phu nhân bĩu môi nói:

- Tên gì mà khó nghe thế? Chẳng qua là công tử muốn đặt ra vậy thôi. Khóm hoa này đủ mầu mỹ lệ đường hoàng, có vẻ gì gọi là cậu tú hỏng thi đâu?

Đoàn Dự nói:

- Phu nhân thử đếm coi! Khóm trà đó có bao nhiêu kiểu hoa khác nhau?

Vương phu nhân đáp:

- Ta đã đếm rồi! ít ra cũng có đến 15, 16 thứ.

Đoàn Dự nói:

- Cả thảy có 17 thứ mới đúng. Bên Đại Lý tôi có thứ trà kêu bằng "thập bát học sĩ". Đó là thứ quý nhất thiên hạ. Cả khóm có 18 bông mà mầu sắc không bông nào giống bông nào: hồng thì toàn hồng, tía cũng toàn tía, chứ không hỗn tạp. Về hình dạng cũng khác nhau, mỗi bông có một vẻ đẹp riêng. Cả 18 bông nở cùng một lúc, tàn tạ cũng trong một giờ. Phu nhân đã được xem chưa?

Vương phu nhân lắc đầu đáp:

- Thiên hạ có thứ trà quý thế kia ư? Tôi chưa từng nghe thấy ai nói đến.

Đoàn Dự lại nói tiếp:

- Sau hạng "thập bát học sĩ", còn có những thứ kém đi từng bậc một, tỷ như "bát tiên quý hải", một gốc sinh ra tám bông hoa khác nhau, "thất tiên nữ" có bảy bông, "phong trần tam hiệp" có ba bông, "nhị kiều" có hai bông một trắng một hồng. Tất cả các bông hoa phải thuần một sắc, nếu hoa hồng có pha mầu trắng, hoặc hoa trắng có pha sắc tía đều là hạng kém.

Vương phu nhân vừa nghe vừa gật đầu. Đoàn Dự lại nói tiếp:

- Riêng về thứ "phong trần tam hiệp" lại chia ra làm hai: hạng chánh và hạng phó. Trong ba bông thì bông tía phải lớn hơn hết tượng trưng cho Cầu nhiêm Khánh, bông trắng thứ nhì tượng trưng cho Lý Tĩnh, bông hồng đẹp và nhỏ nhất tượng trưng cho Hồng phất Nữ. Nếu bông hồng lớn hơn hai bông kia là hạng phó, như thế là giá trị kém đi nhiều.

Vương phu nhân ngồi nghe ra chiều thú vị, than rằng:

- Ngay hạng phó tôi cũng chưa được thấy qua chứ đừng nói đến hạng chánh.

Đoàn Dự lại trỏ thứ trà bông ngũ sắc phê bình:

- Luận về tư cách loại này so với "thập bát học sĩ" thì còn thiếu một bông, ngoài ra các mầu sắc lại còn bác tạp, không được thuần nhất, bông to bông nhỏ, hay nở sớm, nở muộn không đều phỏng có khác chi bì phấn với vôi? Tỷ như sĩ tử văn bài kém cả phân điểm, lẽ tất nhiên thi rớt nên mới có cái tên "Lạc đệ tú tài".

Vương phu nhân nghe có lý thích quá, bật cười nói:

- Kể ra đúng đấy. Nhưng cái tên có vẻ mỉa mai khinh bạc.

Vương phu nhân nghe tới đây biết Đoàn Dự rất sành sỏi về sơn trà đem lòng tín phục. Phu nhân dẫn chàng lên lầu "cẩm vân", chẳng mấy chốc đã thấy gia nhân bày tiệc rượu. Các món ăn của A Bích mời chàng thì lấy sự đơn giản tinh khiết, khéo tay khéo chân làm sở trường còn tiệc của Vương phu nhân lại chú trọng về những món ăn trân tu làm sang. Nhưng Đoàn Dự đã sinh trưởng ở nơi Đế Vương đài các nên thứ gì chàng cũng coi là thường, chàng có vẻ thích những món ăn của A Bích hơn.

A Châu, A Bích được các tỳ nữ bồi tiếp và ăn uống riêng biệt ở chỗ khác. Vương phu nhân đối với Đoàn Dự rất mực cung kính. Bà ngồi chỗ dưới để bồi tiếp chàng.

Rượu đã ba tuần Vương phu nhân hỏi:

- Vừa rồi công tử cho nghe những lời bình phẩm xác đáng về các thứ trà tôi rất đồng ý, còn bốn chậu trà tôi mới lấy về đây thì những thợ trồng hoa ở đất Cô Tô này kêu bằng trà "mãn nguyệt" mà công tử lại bảo một chậu là "Hồng trang tố lý", một chậu "mỹ nhân trảo phá kiếm", vậy có những điểm nào để phân biệt? Xin công tử nói rõ cho biết!

Đoàn Dự nói:

- Chậu hoa trắng mà lớn có vân đen nho nhỏ mới kêu là "mãn nguyệt" những vân đen đó tượng trưng các cành quế ở cung trăng. Chậu hoa cánh trắng mà có vân hồng gọi là "hồng trang tố lý". Cánh trắng mà có điểm một tia đỏ nhỏ như sợi tơ là "mỹ nhân trảo phá kiếm". Thứ giống như "mỹ nhân trảo phá kiếm" nhưng cánh có nhiều tia hồng thì gọi là "ỷ lan kiều". Phu nhân thử nghĩ coi: đã là mỹ nhân thì phải thuần nhã ôn nhu, trên má lỡ tay cào toạc ra một dây máu thì chả hại gì nhưng khắp mặt sây xát, tỏ ra đã bao phen cùng người xô xát thì còn đâu là vẻ mỹ nhân?


Còn đoạn sau đây thôi cũng đủ để thấy sự am tường của Kim Dung trong việc trồng và hiểu hoa trà

Đoàn Dự vừa đi vừa ngắm phong cảnh đột nhiên chàng cười ha hả nghĩ bụng: "Vương phu nhân kể ra cũng kỳ, chẳng hiểu mảy may gì về sơn trà mà lại ưa trà hoa, chỗ nào cũng trồng trà, rồi lại đặt tên cho trang trại của mình là Mạn đà sơn trang, nghe ra có vẻ hay ho lắm. Phu nhân có biết đâu rằng trà ưa khí âm chứ không hợp với khí dương. Trồng trà vào nơi giải nắng thì chẳng chết cũng chột, khó lòng tươi tốt được, vun bón thế nào cũng vô ích. Biết bao nhiêu thứ trà quý để phu nhân làm hỏng hết. Đáng tiếc, đáng tiếc!". Chàng tránh những lối nắng chang chang tìm vào những nơi rậm rạp âm u, đi quanh hết hòn núi nhỏ bỗng nghe tiếng suối khe róc rách, bên tả toàn là trúc mọc xanh rì, bốn bề tịch mịch, mặt trời không chiếu vào đến nơi, đúng là khu âm trái núi. Vương phu nhân thấy nơi này đất cớm cho là không thể trồng hoa được nên tuyệt không có một gốc trà nào.

Đoàn Dự cả mừng lẩm bẩm: "chỗ này trồng trà tuyệt diệu". Đoạn chàng rảo bước quay về chỗ cũ bưng hai chuyến, bốn chậu trà đến đó. Chàng khoét lỗ bên cạnh khóm trúc, ghè cho vỡ chậu sành rồi đặt cả bầu xuống. Tuy chàng chưa làm qua công việc trồng tỉa nhưng đã được xem nhiều, cứ theo cách thức mà làm cho được chu đáo. Hồi lâu chàng trồng xong cả bốn khóm bạch trà ngay cạnh rặng trúc: đầu bên trái là khóm "Trảo phá mỹ nhân kiểm", đầu bên hữu hai khóm "hồng trang tố lý" và "mãn nguyệt", còn khóm "ỷ lan kiều" thì trồng chênh chếch mé sau khối đá lớn bên bờ suối cho hợp với câu:

E thẹn ôm đàn che nửa mặt
Ai kêu ai gọi cũng mần thinh

Đoàn Dự rất đắc ý đã trồng khóm "ỷ lan kiều" vào nơi nửa kín nửa hở cho hợp cảnh và tăng thêm vẻ đẹp. Người Trung Quốc từng đem hoa ví với mỹ nhân, việc trồng hoa cũng như việc trang điểm cho mỹ nhân.